Thứ Ba, 28 tháng 11, 2017

Cách phân biệt các loại vải sợi cơ bản

Hiện nay trên thị trường may mặc có các loại vải sợi khác nhau với tính chất và giá thành cũng rất đa dạng.Bạn có thể phân biệt các loại vải may dong phuc theo hướng dẫn của ANMAC dưới đây.

1. Vải sợi thiên nhiên

Vải sợi thiên nhiên là loại vải được dệt từ các sợi có sẵn trong thiên nhiên mà loài người đã biết khai thác từlâu.

Gốc từ thực vật như: sợi bông (thu được từ quả cây bông), sợi lanh, gai, đay... (thu được từ thân cây lanh, gai,đay...).

Gốc từ động vật như: sợi len (thu được từ lông các loài thú như cừu, dê, lạc đà, thỏ...), tơ tằm (thu được từ kén tằm)... Vải sợi thiên nhiên được dùng phổ biến trên thế giới cũng như ở nước ta là vải dệt từ sợi bông (vải cotton); vảilen, dạ và lụa tơ tằm.

 Hiện nay các mặt hàng dệt từ tơ tằm là những mặt hàng quý, được thế giới ưa chuộng.

a/ Vải sợi bông (xơ cellulose)

* Tính chất:

Ưu điểm:

- Hút ẩm cao. Do đó quần áo may bằng vải sợi bông mặc thoáng mát, dễ thấm mồ hôi, thích hợp với khí hậu nhiệt đới.

- Chịu nhiệt và cách điện tốt.

- Giặy tẩy dễ dàng.

Nhược điểm:

- Dễ bị co.

- Dễ nhàu nát, khi ủi xong khó giữ nếp.

- Dẽ bị mục do vi khuẩn, nấm mốc xâm hại.

* Cách nhận biết:

- Khi kéo đứt sợi thấy dai và chỗ đứt không bị xù lông.

- Khi vò nhẹ vải đẻ lai nhiều nếp nhăn.

- Khi đốt vải cháy nhanh và có mùi như giấy cháy. Tàn tro trắng, lượng ít và dễ vỡ.

* Sử dụng và bảo quản:

- Dùng may quần áo mặc mùa hè, phù hợp để may quần áo trẻ em, người già, người bệnh, trang phục lao động và trang phục quân đội. Vải cotton còn thích hợp cho đồ dùng sinh hoạt cần hút ẩm tốt như áo gối, chăn mền, tấm trải gường,khăn tay, khăn tắm, khăn bàn, khăn ăn, giày vải...

- Nhiệt độ là thích hợp từ 180 - 200 độ C, là khi vải ẩm.

- Giặt bằng xà phòng kiềm.

- Phơi ngoài nắng, cất giữ nơi khô ráo để tránh bị ẩm mốc.

* Tên thương mại:Vải tám, vải calicot, vải ú, vải batiste (phin nõn), vải popline, vải xô, vải kaki, vải jean...

Cách phân biệt các loại vải sợi cơ bản 01

Vải sợi thiên nhiên



b/ Vải tơ tằm (xơ protid)

* Tính chất:

Ưu điểm:

- Mềm mại, bóng mịn, nhẹ.

- Cách nhiệt, cách điện tốt.

- Mặc thoáng mát, hút ẩm tốt: 11%.

Nhược điểm:

- Dễ co.

- Kém chịu nhiệt, nhiệt độ cao làm tơ lụa bị giòn , gãy. Ánh nắng và mồ hôi dễ làm tơ mau mục và úa vàng.

- Kém bền với kiềm.

* Cách nhận biết:

- Cầm tay mát, mặt vải ánh bóng.

- Đốt cháy chậm và có mùi khét như tóc cháy, đầu đốt sủi bọt màu nâu, xốp, bóp vỡ vụn.

* Sử dụng và bảo quản:

- Lụa tơ tằm dùng để may áo dài, chemise (sơ-mi); hàng đũi cao cấp có thể may complet... Vì tính chất cách nhiệt tốt nên quần áo bằng vải tơ tằm mùa hè mặc mát và mùa đông mặc ấm.

- Nhiệt độ là thích hợp từ 140 - 150 độ C. Là ở mặt trái hoặc mặt phải, dùng khăn ẩm để lên mặt vải trước khi là ở mặt phải. Nếu là ở nhiệt độ quá cao, tơ sẽ mất độ bóng.

- Giặt bằng xà phòng trung tính (ví dụ các loại dầu gội đầu), chanh, bồ kết trong nước ấm.- Phơi ở nơi râm mát, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp vào vải.

* Tên thương mại: Lụa, lèo, lượt, the, xuyến, đũi (loại vải tơ tằm thô, dày), đoạn, nái, thao...

c/ Vải len (wool, lain) (xơ protid)

* Tính chất:

Ưu điểm:

- Giữ nhiệt tốt do đó thích hợp với khí hậu ôn đới.

- Vải nhẹ, xốp, có độ bền cao.

- Ít nhăn, ít co giãn, ít hút nước.

Nhược điểm:

- Kém bền với kiềm.

-Dễ bị vi khuẩn, nấm mốc phá huỷ.

* Cách nhận biết:

- Cầm thấy ráp tay.

- Mặt vải có xù lông cứng.

- Khi kéo đứt sợi có độ kéo dãn lớn.

- Đốt cháy yếu, có mùi khét như tóc cháy.

- Tro tàn đen, xốp, dễ vỡ.

* Sử dụng và bảo quản:

- Dùng để may quần áo mặc ngoài về mùa đông như: manteau, blouson, complet...

- Giặt bằng xà phìng trung tính (hoặc xà phòng dành riêng để giặt lain), các loại complet hoặc hàng lain cao cấp thường phải giặt khô, là hơi ( nếu giặt bình thường sẽ bị biến dạng, giảm chất lượng và vẻ đẹp của sản phẩm). Không giặt bằng nước nóng.- Phơi ở nơi râm mát, thoáng gió.

- Cất giữ cẩn thận để tránh bị gián, nhậy cắn.

2. Vải sợi hoá học

Là loại vải được dệt bằng sợi hoá học. Vải sợi hoá học có ưu điểm là trên bề mặt không có tạp chất, ít bị vi sinh vật và nầm mốc phá hủy.

 Căn cứ vào nguyên liệu ban đầu và phương pháp sản xuất mà người ta chia sợi hoá học ra làm hại loại:

* Sợi nhân tạo: là những loại sợi được chế tạo từ những hợp chất cao phân tử (polimer) có sẵn trong tự nhiên như cellulose.... Nguyên liệu là các loại tre, gỗ, nứa...có hàm lượng cellulose cao. 

Các nguyên liệu ban đầu được hoà tan trong các chất hoá học như soude, carbone disulfure, axit sulfurique, muối sulfate... để kéo thành sợi dùng dệt vải. Đó là sợi viscose (hoặc các dạng biến tính của nó là rayon, polino...), acétate. 

Các loại sợi này vẫn có thành phần và tính chất của nguyên liệu ban đầu. Sợi viscose dạng dài liên tục dùng để dẹt các mặt hàng lụa tartant, satin; sợi viscose dạng ngắn dùng để dệt vảifibre hoặc pha với các loại sợi khác thành sợi pha. Sợi acétate dùng để dệt một số mặt hàng mỏng, nhẹ, dùng may áophụ nữ, trẻ em, dệt khăn quàng...


Cách phân biệt các loại vải sợi cơ bản 02



Vải sợi hóa học

* Sợi tổng hợp: là loại sợi được chế tạo từ nguyên liệu hoá học.

Nguyên liệu ban đầu là than đá, dầu mỏ, khí đốt... qua quá trình biến đổi phức tạp như chưng than đá, cracking dầu mỏ, tổng hợp polimer... tạo thành nguyên liệu để sản xuất sợi tổng hợp. 

Các nguyên liệu này có thành phần, tính chất khác hẳn nguyên liệu ban đầu.Sợi tổng hợp có các loại sau:

- Sợi polyamid (PA) dùng để dệt lụa nilon, vải dệt kim, dệt bít tất, chỉ may...

- Sợi polyester (PES) dùng để dệt tergal (dacron), tetron,...; pha với sợi bông, với sợi viscose để dệt hàng vải pha.

- Sợi polyacrylique (PAC) dùng làm nguyên liệu dệt kim (len nhân tạo); pha với các loại sợi khác để dệt hàng vải pha.

- Sợi polyvinylalcol (PVA) dùng dệt vải may manteau, blouson, quần áo lao động, xe dây thừng, dây chão, lưới đánh cá...

- Sợi polyuréthane (PU) dùng dệt vải lycra, pha với các loại sợi khác để dệt vải may y phục ôm sát cơ thể như áo tắm, quần áo lót...Sau đây chúng ta sẽ xem xét những loại vải sơi hoá học thông dụng.

a/ Vải dệt từ sợi nhân tạo viscose

* Tính chất:

- Mặt vải mềm mại, bóng.

- Hút ẩm tốt.

- Độ bền kém, nhất là khi ướt. Khi khô bị co ngắn lại.

- Dễ nhàu nát.

* Cách nhận biết:

- Mặt vải thường mềm mại.

- Khi đốt cháy tro tàn rất ít và chỉ có ở đầu đốt.

* Cách sử dụng và bảo quản:

- Dùng để may quần áo mặc ngoài, vải lót các loại quần áo cao cấp như veston, manteau...

- Nhiệt độ là thích hợp từ 130 - 140 độ C. Do dễ bị nhàu nên phải là với hơi nước.

- Giặt bằng xà phòng thường, không ngâm lâu, không vắt mạnh tay.- Phơi trong bóng râm hoặc ở nơi thoáng khí.

* Tên thương mại:Fibre, tartan, rayon, gấm, lụa, satin...

b/ Vải dệt từ sợi tổng hợp polyamid (PA)

* Tính chất:

Ưu điểm:

- Khá nhẹ, khó bắt bụi.

- Có độ bến kéo, bền ma sát, bền vi khuẩn rất cao.

- Độ đàn hồi tương đối tốt nên ít bi nhàu nát.

- Phơi mau khô.

Nhược điểm:

- Hút ẩm kém (khoảng 4,5%), khó thoát hơi, thoát khí, do đó khi mặc sẽ bị bí hơi.

- Bị lão hoá, trở nên ố vàng và giòn theo thời gian, nhất là khi thường xuyên phơi lâu dưới ánh nắng.

- Khả năng chịu nhiệt kém, dễ bị co và mềm nếu nhiệt độ bàn ủi quá 150 độ C.

* Cách nhận biết:

- Mặt vải bóng, sợi đều.

- Khi đốt, xơ cháy đầu đốt bị chảy nhựa màu hổ phách, cứng khi nguội và bóp không vỡ

* Cách sử dụng và bảo quản:

- Dùng để may áo lót hoặc lót áo jacket.

- Là ở nhiệt độ thấp, từ 120 0 150 độ C.

- Giặt bằng xà phòng giặt thường và phơi trong bóng râm.

- Không giặt bằng nước nóng quá 40 độ C.

* Tên thương mại:Nylon, caprolar, nylfrance.

c/ Vải dệt từ sợi tổng hợp polyester (PES)

* Tính chất:

Ưu điểm:

- Độ bền rất cao, không bị nấm mốc phá huỷ.

- Bền với ánh sáng tốt, chỉ thua polyacrylique.

- Độ đàn hồi cao và định hình rất tốt, gấp 3 lần polyamid. Do đó quần áo dễ là định hình và giữ nếp rất lâu, không bị mất đi sau khi giặt.

- Chịu nhiệt trong phạm vi rộng, có thể từ -70 đến +175 độ C.

- Có tính mao dẫn, nhờ đó mồ hôi thoát ra khe vải tạo cảm giác đễ chịu.

Nhược điểm:

- Hút ẩm kém (khoảng 0,5%).

- Thường bị nhăn ở các đường may.

- Hay bị cong xoắn ở các mép vải.

* Cách nhận biết:

- Mặt vải bóng.

- Khi đốt, xơ cháy và đầu đốt chảy nhựa màu nâu sẫm, cứng khi nguội và bóp không vỡ.

* Cách sử dụng và bảo quản:

- Vải dệt từ sợi polyester may nhiều loại y phục cho cả nam lẫn nữ, giữ nếp rất đẹp, tuy nhiên do hút ẩm kém nên không hợp vệ sinh.

- Là ở nhiệt độ thấp từ 150 - 170 độ C.

- Giặt bằng xà phòng giặt thường, không giặt bằng nước nóng quá 40 độ C.

- Phơi trong bóng râm hoặc nơi thoáng khí.

* Tên thương mại:Tergal (Pháp), dacron (Mỹ), terylene (Anh), swiss bóng, mouseline, soire...

3. Vải sợi pha

Mỗi loại vải đều mang những ưu nhược điểm. Trong thực tế, người ta sử dụng vào lĩnh vực may mặc những loại vải phat hiên nhiên và sợi tổng hợp, nghĩa là các sợi khác nhau pha trộn theo một tỉ lệ nhất định để tạo thành loại vải mang tính ưu việt của các sợi thành phần.

Ví dụ:

- Vải pha PECO: dệt bằng sợi pha theo tỉ lệ 65% sợi polyester và 35% sợi bông cotton được vải KT, gabardine,soire...+ PE: bền, không nhàu.+ Cotton: hút ẩm tốt.Vải KT có ưu điểm là hút ẩm, bền, ít nhàu.- Vải pha PEVI: được dệt từ sợi polyester và viscose.


Cách phân biệt các loại vải sợi cơ bản 03


Vải sợi pha Vải pha có những ưu điểm hơn hẳn vải sợi bông hoặc vải sợi hoá học: bền, đẹp, dễ nhuộm màu, ít nhàu nát, mặc thoáng mát, giặt chóng sạch, mau khô... Vải pha được sử dụng rất rộng rãi để may các loại quần áo và các sản phẩm khác vì rất thích hợp với điều kiện khí hậu của nước ta., phù hợp với điều kiện kinh tế và thị hiếu của nhân dân ta.

Nguồn internet

PCSC-CARGO sẽ là cầu nối giúp bạn gửi hàng nhanh chóng và tiết kiệm ra nước ngoài.
Công ty PCSC chuyên cung cấp dịch vụ
Thông tin liên hệ
- Tel: (84-8) 3516 3630 Fax: (84-8) 3516 3341
- Hotlines: 0909 075 389 / 090 999 5391

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

Gỡ nút thắt Cổ Chai cho ngành dệt may


“Ngành sợi Việt Nam phát triển mạnh với 2/3 sản lượng xuất khẩu đi nước ngoài, tuy nhiên đến giai đoạn nhuộm hoàn tất và vải là khâu mang lại giá trị gia tăng cao thì “tóp” lại, đến cắt may thì lại phình to phát triển”– ông Nguyễn Sơn – Phó Chủ tịch Hiệp hội bông, sợi đã cho biết như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Diễn đàn Doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Sơn, nhuộm hoàn tất là khâu khó nhất. Bởi, doanh nghiệp muốn đầu tư vào lĩnh vực này phải có trình độ kĩ thuật cao của cả kĩ sư, may móc.

 Như vậy, nguồn vốn đầu tư cũng phải cao, tuy nhiên đây cũng là khâu mang lại giá trị gia tăng cao.



Ông Nguyễn Sơn – Phó Chủ tịch Hiệp hội bông sợi Việt Nam.

– Điều gì đã tạo ra “nút thắt cổ chai” trong mắt xích nhuộm hoàn thiện, thưa ông?

Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy qua các con số của ngành sợi. Trong 9 tháng đầu năm 2017, ngành sợi đã xuất khẩu 990 ngàn tấn với tổng giá trị 2,62 tỷ USD tăng 23,7% về giá trị so với năm 2016.

Tính riêng trong tháng 9, xuất khẩu xơ, sợi Việt Nam ước đạt 122 ngàn tấn trị giá 320 triệu USD, tuy giảm 1,1% về sản lượng nhưng lại tăng 3,5% giá trị so với cùng kỳ tháng trước.

Năng lực kéo sợi của Việt Nam năm 2017 dự kiến đạt mức khoảng 1,4 triệu tấn. Do có sự mở rộng đầu tư của một số doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài.

Bên cạnh ngành sợi thì ngành may mặc cũng rất phát triển. Hiện nay ngành may mặc Việt Nam có khoảng 5 nghìn doanh nghiệp, sẽ tạo ra khoảng 5 tỷ sản phẩm tương đương sẽ sử dụng 9 – 10 tỷ mét vải.

 Tuy nhiên Việt Nam mới sản xuất và dệt được khoảng 2 tỷ mét, tương đương với khoảng 20%. Trong đó bao gồm cả nguyên liệu phục vụ nhu cầu trong nước và cả xuất khẩu.

 Như vậy, Việt Nam phải nhập khẩu 6 – 7 tỷ mét vải/năm.

Nhìn tổng thể chuỗi cung ứng ngành dệt may có thể thấy, ngành dệt may Việt Nam phát triển, tuy nhiên phải nhập khẩu quá nhiều nguyên liệu điều này sẽ khiến ngành dệt may bị phụ thuộc vào thị trường nguyên liệu giá cả bấp bênh vì thay đổi từng ngày theo giá thế giới.

Đó là chưa kể,chi phí lao động tăng cao, chi phí giao nhận, logistics cao, giấy phép con cũng còn nhiều dẫn đến tình trạng cạnh tranh ngành may mặc suy giảm.

Điều này đã lý giải vì sao kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may năm 2016 đạt giá trị lớn thứ 2 chỉ sau ngành điện thoại và linh phụ kiện nhưng giá trị gia tăng không cao và vì một nửa số đó chúng ta đã phải chi cho nhập khẩu nguyên liệu vải.

Năm 2017, dự kiến giá trị xuất khẩu ngành dệt may sẽ đạt từ 30 – 35 tỷ USD tuy nhiên giá trị nhập khẩu vài dự kiến cũng sẽ đạt 11 tỷ USD.

– Được biết, doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia được vào chuỗi cung ứng ngành dệt may với doanh nghiệp nước ngoài như việc mở thư đảm bảo tín dụng (LC)?


Ở châu Âu hay một số nước phát triển, một tập đoàn bán lẻ sản phẩm dệt may sẽ là đơn vị sắp xếp và lựa chọn toàn bộ doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng của mình từ khâu nguyên liệu bông, dệt sợi, nhuộm thành phẩm, vải và cắt may đều ở trong nước. Tuy nhiên điều này lại hoàn toàn khác khi thực hiện ở Việt Nam.

Ví dụ, khi một doanh nghiệp Việt Nam được đặt một đơn hàng, doanh nghiệp này đã ngầm chọn một doanh nghiệp nào đó từ Trung Quốc hoặc Hàn Quốc để cung cấp vải.

Hoặc doanh nghiệp này sẽ chọn doanh nghiệp cung cấp vải của Trung Quốc và báo doanh nghiệp Việt Nam mở LC để mua vải của doanh nghiệp bên kia về để cắt may.

Nhìn chung, việc mở LC thì cũng vẫn là một hình thức gia công. Ngoài ra, khi doanh nghiệp Việt Nam được giao mở LC có thể được nhận thêm một số giá trị lợi nhuận song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Thêm nữa, trong việc mở LC này doanh nghiệp Việt Nam thường thiếu vốn. Điều này là không thể tránh khỏi khi đa số doanh nghiệp trong Hiệp hội bông sợi Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Hiện nay, có rất nhiều ngân hàng cung cấp các gói tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và trong Quyết định số 55/2001/QĐ – TTg của Chính phủ có quy định về hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp dệt may nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngành dệt may. Ông đánh giá như thế nào về chính sách hỗ trợ này?

Chính sách hỗ trợ ngành dệt may trong đó có bông sợi từ Nhà nước và cơ quan quản lý là có. Tuy nhiên, còn rất chung chung và chưa sát sườn hay nói cách khác là khi tác dụng chính sách về đến doanh nghiệp thì rất yếu.

Trong QĐ số 55/2001/QĐ – TTg của Chính phủ liên quan đến hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thì vốn của Nhà nước không có mấy, chủ yếu là vốn vay nước ngoài, vốn ngân hàng và vốn huy động của doanh nghiệp.

Về vốn ngân hàng, với mức lãi suất hiện giờ trung bình khoảng 6%, nếu doanh nghiệp vay lâu dài có thể lên đến 8% thậm chí 10%. Với một khoản vay thế chấp lớn để đầu tư máy móc thì riêng việc lo để trả lãi ngân hàng thôi cũng đủ làm doanh nghiệp “hao mòn”.

Vốn Nhà nước ít cũng là điều dễ hiểu vì ngân sách còn eo hẹp mà ngành gì cũng trông chờ vào ngân sách thì điều này là hoàn toàn không thể.

Tuy nhiên Nhà nước có thể cho doanh nghiệp ngành sợi bông vay theo hình thức vốn ODA, thời gian vay dài và lãi suất thấp để doanh nghiệp giải quyết “nút cổ chai” cỏ mình.

– Ông có thể chia sẻ rõ hơn về điều này?

Trước đây, Nhà nước có đầu tư một số nhà máy dệt liên hợp như May 10, Thành Công, Thắng Lợi, trong đó các quy trình của chuỗi ngành dệt may được khép kín.

 Tuy nhiên đến nay các doanh nghiệp này gần như đã “héo mòn”. Vì vậy, để gỡ được nút cổ chai trong khâu nhuộm hoàn tất thì chỉ có thể trông chờ vào khu vực tư nhân.

 Theo tôi, động lực để doanh nghiệp đầu tư mạnh vào khâu nhuộm thì trước tiên cần những chính sách ưu đãi đúng mức dành cho lĩnh vực này.


Hiện nay, doanh nghiệp bông sợi đang loay hoay tìm nguồn vốn hỗ trợ đầu tư xử lý nước thải. Bởi các tỉnh như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thái Bình đều nói không với kế hoạch đầu tư nhà máy nhuộm, chỉ còn Bắc Giang, Nam Định. Tiêu chuẩn xủ lý nước thải trước khi xả ra môi trường đã lên tiêu chuẩn 175 cột A.

Muốn đạt được điều này, các doanh nghiệp phải đầu tư hệ thống nhà máy xử lý nước thải đủ hiện đại để áp ứng tiêu chuẩn xả thải trước khi ra môi trường và có công suất đủ lớn. Muốn vậy, doanh nghiệp phải đầu tư vốn.


Như một số địa phương hiện nay đang xây nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt, do ngân sách công đầu tư, tuy nhiên lại không thu lại được gì.

Chi bằng đầu tư cho doanh nghiệp sợi theo dạng ODA, với thời gian dài và lãi suất thấp, doanh nghiệp có thể hoàn thiện chuỗi cung ứng mà Nhà nước cũng vẫn thu được lại được tiền mà không bị mất đi.


Bên cạnh đó nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành nhuộm cũng đang thiếu. Hàng năm khoa kĩ sư nhuộm của Đại học Bách Khoa đào tạo được khoảng 50 kĩ sư.

Nguồn nhân lực này quá thiếu so với yêu cầu của ngành. Bởi đặc thù của ngành nhuộm là vất vả, tiếp xúc với hoá chất, nước nhuộm nóng, sinh viên ít lựa chọn nếu không phải đam mê.

 Vì vậy Nhà nước cần có quy hoạch nguồn nhân lực cho ngành ví dụ như giảm học phí hay hỗ trợ việc làm.


Có như vậy, dù ngành nhuộm hoàn tất có khó như nào thì các doanh nghiệp Hiệp hội bông sợi vẫn quyết tâm làm với mục tiêu làm chủ nguồn nguyên liệu trong thời gian tới.

Nguồn internet

PCSC-CARGO sẽ là cầu nối giúp bạn gửi hàng nhanh chóng và tiết kiệm ra nước ngoài.
Công ty PCSC chuyên cung cấp dịch vụ
Thông tin liên hệ
- Tel: (84-8) 3516 3630 Fax: (84-8) 3516 3341
- Hotlines: 0909 075 389 / 090 999 5391